Title

Subtitle

   Cuộc Cách Mạng Của Chúng Ta

 

NGHĨ GÌ VỀ CUỘC CÁCH MẠNG CHƯA THÀNH CỦA CHÚNG TA? 

                                                                                                     LS Trần Văn Tuyên

Có những danh từ làm cho người ta mỉm cười khi nghe nhắc tới.  Danh từ “cách mạng” là một.

Từ 25 năm nay, đã bao nhiêu lần người Việt Nam nghe nói đến cách mạng.

Cách mạng giải phóng dân tộc và Cộng sản của ông Hồ Chí Minh.

Cách mạng nhân vị của ông Ngô Đình Diệm.

Cách mạng dân chủ ôn hòa của Đại Tướng Dương Văn Minh.

Cách mạng toàn diện của Đại Tướng Nguyễn Khánh.

Cách mạng người nghèo của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ v.v...

Trước đây cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Johnson, Đại Sứ Cabot Lodge và hàng trăm nhân vật quan trọng ngoại quốc khi nói đến VN cũng hô hào thực hiện “cách mạng xã hội”.

Trong dân gian, người dân cũng nói, cũng muốn thấy cách mạng.

Cách mạng là một tiếng đầu lưỡi, đã thành một nhu cầu, một mong đợi, một hy vọng.

Thực ra nói cách mạng là một việc.

Làm cách mạng là một việc khác.

Thực hiện mục tiêu cách mạng là một việc khác nữa!!

Trong 25 năm qua, chúng ta đã trải qua bao nhiêu cuộc thay đổi mệnh danh là cách mạng, nhưng trước mắt ta, chung quanh ta, vẫn nguyên vẹn các thể chế thực dân, phong kiến cũ, tình trạng lạc hậu, lỗi thời, thối nát, xấu xa của một xã hội cũ kỹ, suy đồi, phân hóa.

Người ta chỉ nói cách mạng mà chưa ai LÀM cách mạng.

 

I. CÁCH MẠNG LÀ GÌ?

Cách mạng có nghĩa là thay cũ đổi mới. Mà thay đổi không phải chỉ là thay đổi một chính quyền, không phải chỉ thay một hiến pháp, hiến chương, một số luật pháp, một vài chi tiết vụn vặt.

Cách mạng không phải chỉ là một nhãn hiệu mới dán vào những món hàng cũ để lừa dối nhân dân như nhãn hiệu cách mạng nhân vị dán vào chế độ độc tài, gia đình trị của ông Ngô Đình Diệm.

Cách mạng cũng không phải là việc đổi tên những tổ chức cũ để làm đồ mới, như đổi tên “Ấp Chiến Lược” thành “Ấp Tân Sinh”, đổi danh từ “Bộ Trưởng” thành “Ủy Viên Ban Hành Pháp”.

Cách mạng cũng không phải là tuyên bố huyênh hoang, hay biểu tình phá rối rồi tự gán cho mình sứ mạng cứu dân, cứu nước, rồi tự dành độc quyền cách mạng, rồi cho tất cả những người khác là lạc hậu, là lẩm cẩm, là xôi thịt, là phản động, rồi bắt, rồi đánh, rồi nhốt, rồi giết.

Cách mạng cũng không phải chỉ là một cuộc thay bậc đổi ngôi của một người, một số người vì bị ức hiếp, nghèo khổ hay vì danh lợi, tự ái, căm hờn nổi lên lật một chánh quyền để rồi cướp chỗ.

Ở Việt Nam mấy cuộc đảo chánh, biến chánh, biến cố chính trị... trong những năm qua cũng có tính chất tương tự. Nhưng tuy người cai trị đã thay, các thể chế cũ vẫn còn nguyên vẹn; nền hành chánh cũ còn đó, luật lệ cũ còn đó, nhân viên cũ còn đó, tinh thần nô lệ, sợ trách nhiệm, lạc hậu cũ vẫn còn đó!!

Tất cả những cuộc biến đổi trên đây tuy được gọi là cách mạng, thực ra không phải là cách mạng.

Cách mạng phải là một cuộc thay đổi toàn diện, không những thay đổi người mà còn thay đổi tư tưởng, thay đổi nếp sống, thay đổi tác phong, thay đổi phương pháp hành động, nhất là thay đổi tổ chức, thay đổi thể chế, thay đổi tương quan giữa người và người.

Và thay đổi nhanh, thay đổi mạnh, thay đổi toàn diện, thay đổi triệt để.

Phải nhớ rằng việc phá hoại tương đối là việc dễ.

Xây dựng những cơ sở mới để thay vào những cơ sở cũ mới khó.

Vì một cuộc cách mạng đòi hỏi:

  • Việc tham gia sâu rộng của toàn dân hay ít nhất của một số đông vào sự nghiệp cách mạng.
  • Một sự cải tổ đại qui mô các thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
  • Một chương trình hành động trường kỳ để thực hiện những nguyện vọng mà lịch sử và nhân dân chờ đợi.

 

II. ĐƯỜNG HƯỚNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Cách mạng là cuộc bùng nổ. Hơi chứa chất quá sức chịu đựng của bình thì bình mới nổ. Mụn nhọt âm ỉ, chín rồi mới vỡ. Mây đùn đủ sức rồi mới mưa. Mìn, mồi cháy đến nơi rồi mới nổ.

Cách mạng cũng vậy.

Cách mạng chỉ bùng nổ khi các điều kiện lịch sử khách quan, chủ quan, đã đến mức làm cho nó bùng nổ.

Cách mạng là những cơn sốt vỡ da trong lịch trình trưởng thành của một dân tôc.

Cách mạng là năng lực tiến hóa của lịch sử, và cũng như lịch sử, có chiều hướng không thể lộn trở lại. Vì vậy công tác căn bản thứ nhất của người làm cách mạng là nhận xét, tìm hiểu và hướng dẫn thực tại để đi đúng hướng lịch sử, hướng cách mạng, mà không để cho thực tại lôi cuốn một cách thụ động, vô ý thức.

Công tác căn bản thứ hai của người cách mạng là xác định vị trí trên giai đoạn và trình độ cách mạng đặt thành chương trình kế hoạch để thực hiện.

Trước hết, ta hãy xác định vắn tắt những giai đoạn của cách mạng Việt Nam để nhận chân được hướng tiến và trình độ của nó.

 

oOo

 

Tôi cũng chỉ phác họa một cách sơ lược đường hướng của cuộc cách mạng ấy.

1)    Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn cách mạng quốc gia dân tộc, chống phong kiến ngoại tộc biểu dương trong sự nghiệp chống thống trị và bóc lột thời BắcThuộc.

2)    Giai đoạn thứ hai là giai đoạn cách mạng chống phong kiến nội tộc, biểu dương trong những cuộc nổi loạn chống chánh sách chuyên chế của nền Quân Chủ.

Thực ra, những cuộc nổi loạn này không hẳn là cách mạng vì không có ý thức, không có tổ chức cách mạng, không đem lại thành tựu cách mạng.

Các cuộc bạo động chỉ là dịp cho bọn phong kiến lợi dụng phẫn nộ của dân chúng để đánh đập nhau, tranh giành nhau quyền thống trị. Triều đại đổi thay nhưng thật ra dân chúng không được lợi gì; vì sau khi lật đổ một triều đại phong kiến, người ta lại thấy xuất hiện một triều đại phong kiến khác.

Đối với nhân dân, cuộc thay đổi chỉ là thay chủ, đổi thầy, không có sự thay đổi cơ cấu xã hội.

3)    Giai đoạn thứ ba là cuộc cách mạng tư sản chống đế quốc sau khi giang sơn bị Pháp xâm chiếm.

Bắt đầu là phong trào giải phóng dân tộc, chống xâm lăng đế quốc do phong kiến lãnh đạo (Văn Thân, Cần Vương). Cuộc cách mạng này thành hình, lớn mạnh, với sự du nhập của học thuật, tư tưởng Âu Châu, vào nước ta, nhất là những tư tưởng dân chủ, dân quyền, tự do, bình đẳng.

Sau phong trào Văn Thân, Cần Vương, là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do đám người tư sản tân học ở thành thị, tư sản hào mục ở nông thôn lãnh đạo.

Cuộc cách mạng này bùng nổ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Mục đích rõ rệt: chống đế quốc, chống áp bức chính trị, chống kiềm chế kinh tế của đế quốc.

Phong trào cách mạng này thất bại vì điều kiện chủ quan, khách quan chưa đầy đủ. Thực tại chưa chín mùi để cách mạng thắng lợi.

Nhân dân mới có một ý thức cách mạng non nớt, chưa hiểu biết, chưa nắm vững được tính chất, sở trường, sở đoản của hiện tượng đế quốc.

Lập trường chánh trị, cách mạng cũng không rõ rệt; chương trình Việt Nam Quốc Dân Đảng có đề cập tới chủ nghĩa Dân Chủ Xã Hội nhưng thực ra không có một chương trình chính trị rõ rệt.

Đường lối không xác định, tổ chức cũng không khoa học. Tầng lớp lãnh đạo không dựa vào một tinh thần tích cực, trung kiên.

Vì vậy cuộc cách mạng không thành công. Hàng ngũ cách mạng bị đế quốc tiêu diệt tàn nhẫn. Phong trào cách mạng thoái hóa.

4)    Giai đoạn thứ tư: cuộc cách mạng vô sản chống đế quốc, phong kiến.

Cuộc cách mạng này đã phôi thai và xuất hiện với các mâu thuẫn của chế độ thuộc địa. Nhân dân ta đa số là nông dân, bị bóc lột bởi hai tầng thống trị đế quốc và phong kiến.

Một số nông dân biến thành lao động kỹ nghệ trong các xí nghiệp của thực dân và bọn mại bản của họ.

Cộng sản lợi dụng tình thế này tuyên truyền cho cách mạng vô sản, thúc đẩy phong trào nông dân chống sưu thuế, hà lạm của bọn quan liêu, tổ chức bãi công, thợ thuyền đòi tăng lương...

Trong khi bọn cách mạng tiểu tư sản loanh quanh ở thành thị trong giới trí thức hay ở nông thôn trong giới kỳ hào địa chủ thì Cộng sản cố nắm lấy bần cố nông vô sản, thợ thuyền, hay tiểu công, tư chức.

Nhờ một ngẫu nhiên của lịch sử, Cộng sản được tiếng là đứng vào phe Đồng Minh (Cộng sản có dịp giúp đỡ hai phi công Mỹ bị Nhật Bản bắn rơi ở vùng Việt Bắc, giữa chiến khu của họ và sau đó được Hoa Kỳ giúp một ít súng ống và do đó có thể tuyên truyền).

Nhân dịp chính sách ươn hèn, nhút nhát và không ý thức thực tại chính trị của bọn Cách mạng tiểu tư sản nên Cộng sản phất cờ giải phóng và lên cầm quyền ngày 19-8-1945 ở Bắc.

Sau đó, một lần nữa cũng vì bọn Cách mạng tư sản vẫn không ý thức được thực tại lịch sử nên Cộng sản lại có cơ hội nắm danh nghĩa kháng chiến, chống Pháp và lãnh đạo cuộc tranh đấu giải phóng dân tộc, kết thúc bằng sự sụp đổ của chế độ thực dân ở Hội Nghị Genève tháng 7 năm 1954.

5)    Giai đoạn cách mạng hiện tại:

Sau thỏa hiệp Genève, đất nước bị chia đôi. Phần trên vĩ tuyến 17 bị đặt dưới một chánh quyền Cộng sản. Ở phần dưới vĩ tuyến 17 thì chánh quyền mệnh danh là “chánh quyền quốc gia”.

Ở Bắc, chánh quyền Cộng sản trong 20 năm cố thực hiện cuộc cách mạng vô sản. Cuộc tranh đấu của họ liên tục trên một cơ sở vững chắc, có một lập trường rõ rệt, theo một đường lối, kế hoạch đã được nghiên cứu cẩn thận, với một số cán bộ huấn luyện kỹ lưỡng và có kinh nghiệm tranh đấu.

Vì vậy cuộc cách mạng Cộng sản ở Bắc có nội dung thiết thực của cách mạng, thực hiện được ý muốn cách mạng. Chỉ tiếc rằng cuộc cách mạng của họ không phù hợp với đạo lý nhân nghĩa và ham chuộng tự do của dân tộc ta.

Ở miền Nam, cách mạng tư sản cố gắng thu thập cán bộ, chỉnh đốn hàng ngũ. Nhưng hàng ngũ của họ tan rã đã lâu. Một phần đứng vào hàng ngũ kháng chiến, kháng Pháp rồi đi theo luôn Cộng sản.

Phần còn lại thì nội bộ bị chia rẽ trầm trọng, chia rẽ giữa thế hệ già và trẻ; chia rẽ giữa các hệ phái trong các đảng phái, chia rẽ giữa từng lớp cầm quyền, và nhân dân.

Tình thế chánh trị lại luôn luôn giao động, ảnh hưởng ngoại lai làm cho tình thế đã phức tạp lại càng phức tạp hơn. Cộng sản thừa cơ vận động khuynh đảo chế độ miền Nam để đi tới thống nhất.

Trào lưu cách mạng chỉ còn là những dòng suối nhỏ, hầu như khô cạn.

 

III. BẢN CHẤT CUỘC CÁCH MẠNG CỦA CHÚNG TA

 Xét lịch trình cách mạng Việt Nam, ta thấy mục đích đều nắm vào việc giải phóng, chống áp bức, thống trị.

Nhưng trong cách mạng phong kiến, giải phóng có ý nghĩa là giải phóng giai cấp phong kiến.

Trong cách mạng dân chủ tư sản, giải phóng có ý nghĩa là giải phóng giai cấp tư sản.

Trong cách mạng Cộng sản, giải phóng có ý nghĩa là giải phóng giai cấp vô sản.

Xét cho kỹ, trong dân tộc ta, các giai cấp trong xã hội không rõ rệt. Khi ta nói “giai cấp phong kiến, tư sản, vô sản” ta chỉ dùng những danh từ đó để hình dung những từng lớp nhân dân mà xưa cũng như nay, thường không nhất định, thường vẫn hòa hợp với nhau (ai giàu ba họ? ai khó ba đời?) cho nên xã hội VN vẫn là một xã hội không giai cấp.

Xã hội ta chưa có một bọn tư sản có ý thức giai cấp, cũng chưa có một bọn vô sản có ý thức giai cấp.

Chính những người lãnh đạo đảng Cộng sản hay Mặt Trận Giải Phóng như các ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát... đều xuất thân từ thành phần tư sản, trí thức.

Thợ thuyền làm việc trong các xí nghiệp tương đối là những người có một mực sống cao hơn nhiều hạng người khác, như gia nhân, công chức cấp dưới, người buôn thúng bán mẹt và một số đông nông dân.

Chiến tranh hiện tại lại đã làm xáo trộn thêm các tầng lớp xã hội: một số lao động hiện nay có một mức sống tương đối cao hơn những người làm nghề tự do hay công chức cao cấp.

Một số tiểu tư sản hay vô sản nay đã trở thành những người tư bản. Trái lại những người tư bản (đại điền chủ, phú nông, trung nông) đã bị phá sản.

Vì vậy, cho nên mặc dầu Cộng sản cố gắng tuyên truyền cho thuyết Cộng sản, họ đã không thành công trong việc xây dựng xã hội Cộng sản ở miền Nam. Bằng chứng là họ không dám ra mặt là Cộng sản mà ẩn nấp dưới nhãn hiệu đảng “Nhân Dân Cách Mạng” hay “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”.

 

oOo

 

Ở Bắc, đảng Cộng sản cầm quyền. Nhân dân bị Đảng kiểm soát chặt chẽ. Chế độ miền Bắc đang xúc tiến cuộc cách mạng vô sản. Nhân dân miền Nam một mặt còn nằm trong tình trạng bán đế quốc, bán phong kiến, một mặt phải đương đầu với chiến tranh vẫn lúng túng trong chế độ xã hội cũ, lạc hậu. Chính vì vậy mà động lực cách mạng không biểu lộ, phát triển được. Bản chất chế độ chính trị miền Nam chỉ kéo dài tình trạng bê bối, nô lệ cũ.

Chủ quyền chính trị ở trong tay một thiểu số tư bản quân nhân, sống nhờ sự viện trợ quân sự, kinh tế ngoại quốc và do đó bị chánh trị kinh tế ngoại quốc chi phối.

Vì lẽ đó cho nên độc lập mất ý nghĩa; tự do dân chủ khó trưởng thành, chỉ có ở hình thức hay trong tuyên truyền.

Chính vì lẽ đó mà mâu thuẫn nội tại càng ngày càng nhiều và không đi kịp trào lưu lịch sử nhân loại.

Trào lưu đó hướng về dân chủ, dân chủ toàn diện, rộng rãi, thiết thực, trong đó không còn những sự hỗn độn, bất công, bất bình đẳng.

Đại đa số nhân dân Việt Nam, trưởng thành trong 100 năm tranh đấu liên tục chống đô hộ, trưởng thành trong những kinh nghiệm trăm vẻ 30 năm qua (thực dân Pháp, xâm lăng Nhật, độc tài Cộng sản...) tất nhiên cũng đòi hỏi một nền dân chủ toàn diện, tiến bộ, không thể thỏa mãn với một nền dân chủ lạc hậu, cũ kỹ, hấp hối. Dân Việt Nam trên hay dưới vĩ tuyến 17 đều đòi hỏi như vậy.

Ở Bắc, Cộng sản tuy theo đường lối cách mạng nhưng áp dụng những phương pháp mà ta không thể chấp nhận được. Ở trong Nam, các chánh quyền vẫn chưa ý thức được đường hướng cách mạng nên lúng túng không thấy lối đi.

 

A)   CHÁNH SÁCH CỘNG SẢN

Cộng sản dùng chánh sách đảng trị, áp dụng những phương pháp bất chấp nhân tính nên gây ra nhiều mâu thuẫn, làm tổn thương tánh chất cuộc cách mạng dân chủ xã hội.

 

1)    Đối với bọn tư bản địa chủ, Cộng sản nhiều khi đối xử với họ một cách dã man qua sự đòi hỏi của nhu cầu cách mạng; không những hủy tiêu “TÍNH BÓC LỘT” của họ mà còn thủ tiêu cả “CÁ NHÂN TÍNH” con người, phủ nhận, chà đạp nhân phẩm và quyền làm người của bọn người này.

Cộng sản tịch thu tài sản, đấu tố đến chết những người mà họ gọi là địa chủ, cường hào ác bá.

Cộng sản viện lẽ rằng xã hội Việt Nam đã sống 1000 năm dưới chế độ bóc lột phong kiến. Vậy phong trào phát động dân chúng (nông dân) đấu tranh là một đòi hỏi của thực tại, để hoàn thành cách mạng ở nông thôn, giải phóng lao động.

Trên mặt nguyên tắc thì quan niệm này đúng. Nhưng sau khi hủy diệt phong kiến bóc lột rồi, chánh sách kinh tế của Cộng sản còn tàn tệ hơn chánh sách bóc lột phong kiến. Nông dân trước kia tự do sống (tuy bị bóc lột) nay sống trong trói bó của Đảng, phải triệt để tòng phục các cấp lãnh tụ, tòng phục Đảng, phải chịu đựng rất nhiều hi sinh để sửa soạn một tương lai xa vời mù mịt và sự bóc lột, có phương pháp, khoa học, tàn nhẫn do bộ máy “NHÀ NƯỚC ĐẢNG TRỊ” phi nhân đạo áp dụng.

 

2)    Đối với người trí thức, Cộng sản muốn hủy tiêu trình độ kiến thức và ý thức mà bọn người này đã đạt được. Cộng sản buộc những người trí thức phải thu hẹp NHÃN GIỚI TRI GIÁC vào công tác trước mặt, cấm đoán họ suy nghĩ và dự phòng tương lai. Cộng sản muốn người trí thức chỉ là một cái máy dưới quyền điều khiển của ĐẢNG, bắt họ phải tin những CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI, buộc họ phải coi những việc Cộng sản làm là hoàn toàn.

Người trí thức, nhất là những người đã được biết, được sống, trong nền văn hóa tự do, không thể chịu đựng nổi cách suy luận đơn giản, vũ đoán này, vì tầm mắt họ đã mở rộng, trí tuệ họ đã quen nhận định sự việc bằng lý trí, lẽ phải, tự do.

Ở Việt Nam đa số trí thức thuộc từng lớp tư sản và gồm chừng 5% dân số.

Trong viễn tượng cách mạng Cộng sản, đảng Cộng sản sẵn sàng hi sinh giai cấp thiểu số này để “giải phóng giai cấp lao động”, chiếm đa số (95%).

Các phần tử trí thức được Cổng Sản chiếu cố như Phạm Huy Thông, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Thọ...chỉ là những tay sai, dụng cụ của Đảng (Cộng sản).

 

3)    Đối với lao động, Cộng sản nỗ lực hướng dẫn, huấn luyện, giác ngộ họ. Nhưng phương pháp huấn luyện Cộng sản là làm cho họ thành ra những máy móc hay bộ phận máy móc.

Người lao động trong chế độ Cộng sản, không còn là người lao động thông minh, có ý thức như Marx đã mô tả mà chỉ còn là một dụng cụ, để thi hành một chương trình mà người lao động không ý thức , được một công việc mà họ không nhận thức được ý nghĩa.

“Như vậy, Cộng sản, không những không giải phóng được lao động mà trái lại, làm giảm bớt hay làm mất hết nhân phẩm người lao động”.

Cộng sản giải thích sự cưỡng ép làm việc bằng nhiều lý do như: cần hy sinh để xây dựng tương lai, bảo vệ cách mạng.

Nhưng ta phải biết rằng hy sinh chỉ có ý nghĩa khi là hy sinh tự do, ý thức.

Con người tự do không thể thoát thai từ nô lệ. Vì vậy muốn giải phóng lao động thì phải làm sao để con người lao động tự họ ý thức tham gia cách mạng.

Chỉ như vậy, tương lai cách mạng mới được bảo đảm.

Nói chung, đối với người dân KHÔNG CỘNG SẢN, đảng Cộng sản áp dụng chính sách tuyên truyền mê hoặc để lôi cuốn họ. Họ không bị áp bức bắt làm việc như khổ sai, nhưng Cộng sản dùng phương pháp thi đua, o bế, khuyến khích để thúc đẩy người lao động thực hiện kế hoạch của đảng cho đúng mức, đúng kỳ.

Đối với ĐẢNG VIÊN, Đảng đòi hỏi họ phải đặt quyền lợi Đảng lên trên hết. Phải hi sinh không những đòi sống riêng tư mà còn phải hi sinh cả ý chí cách mạng, nếu cần, (biết bao lần Đảng kết án đảng viên vô tội để tuyên truyền vì cần sửa đổi chính sách, và chính các đảng viên tự buộc tội mình rồi chịu tù, chịu chết).

Đảng Cộng sản coi đảng viên hơn cả người nô lệ. Thay vì họ tạo nên “người vô sản tự giác” - theo nguyên lý Mác Xít - họ đã dùng phương pháp chuyên chế cá nhân và đặt ra các thể chế thờ phụng cá nhân.

Về mặt này, Cộng sản đã phản bội Cách Mạng.

 

B)   CHÁNH SÁCH CÁCH MẠNG CẦN LAO NHÂN VỊ

Trước 1963 ở miền Nam, các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu cũng chủ trương làm cách mạng. Cuộc cách mạng này được mệnh danh là Cách Mạng Cần Lao Nhân Vị.

Chủ nghĩa Cần Lao Nhân Vị cách mạng có màu sắc xã nghĩa. Nhưng thực chất chỉ có xu hướng một chủ nghĩa cải lương.

Chủ nghĩa đó không kết án chủ nghĩa tư bản, không có ý hủy tiêu chế độ kinh tế tư bản để lập một nền kinh tế phụng sự nhu cầu dân chúng cần lao.

Chủ nghĩa nhân vị nhìn nhận chế độ kinh tế tự do, tuy bài bác sự lạm dụng tự do, nhưng không công kích nền tảng cơ sở của chế độ tư bản, lại chủ trương một chủ nghĩa tư bản lãng mạn “Kinh Tế Khu Vực” với những khẩu hiệu “Phụng Sự Lao Động”, “Thăng Tiến Cần Lao”, “Lao Tư Đề Huề”, một mặt khác duy trì một hệ thống sản xuất trục lợi và bóc lột cùng các đặc quyền, đặc huệ của các tầng lớp xã hội cũ.

a.    Về mặt chính trị thì chính quyền Cách Mạng Nhân Vị áp dụng những tổ chức, những phương pháp bắt chước chế độ phát xít của Franco (Y-Pha-Nho) hay của Salazar (Bồ-Đào-Nha).

b.    Trên nguyên tắc, cơ sở lý luận là thông điệp của Đức Giáo Hoàng LEON XIII, chủ trương quyền tư hữu bất khả xâm phạm, bài bác đấu tranh giai cấp, hô hào tư bản bớt tham lam cho thợ thuyền có điều kiện tối thiểu mà sống.

c.    Về mặt cơ sở tranh đấu, mặc dầu các ông Nhu, Diệm chủ trương làm một cuộc cách mạng “Cần Lao Nhân Vị”, đảng Cách Mạng Nhân Vị của họ không do thợ thuyền tự động thành lập cũng không để phục vụ quyền lợi giới cần lao hay căn cứ ở giới cần lao. Trái lại để thi hành chính sách, ông Ngô Đình Nhu đã dựa vào một số người tư bản, trí thức và tôn giáo. Việc này không có gì làm lạ vì hai ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình quý phái, công giáo.

d.    Thực ra ông Ngô Đình Nhu chỉ mượn danh nghĩa chống cộng, mượn chiêu bài xã nghĩa, mượn chủ nghĩa Leon XIII. Để canh tân chủ nghĩa của Đức Giáo Hoàng Leon XIII, ông ta mượn thêm quan niệm “kinh tế khu vực” của nhóm Economie Humaniste và một vài quan niệm kinh tế của phong trào nhân vị Pháp.

Tuy nhiên hai chủ nghĩa này đã bị xuyên tạc. Trên thực tế chủ nghĩa Cần Lao Nhân Vị chỉ là một thứ cá nhân chủ nghĩa, suy đồi chủ nghĩa, gần chế độ quan liêu phong kiến thuở xưa hơn là một chế độ cách mạng xã hội.

Vì chủ trương phản động, phản tiến bộ, nên chế độ cách mạng nhân vị của họ Ngô đã thất bại một cách bi đát.

 

Dưới chế độ đó cảnh ngộ các thành phần nhân dân sống thế nào?

1)    Giới lao động: Thay vì giúp đỡ lao động (thăng tiến), chế độ cách mạng Nhân Vị đã lợi dụng lao động để chia rẽ lao động. Khi củng cố địa vị rồi lại đàn áp lao động.

2)    Giới tư sản: Trong thời kỳ Pháp thuộc họ giữ địa vị mại bản, tùy phái, thư lại cho Đế Quốc. Họ là những người chống cộng thực sự, nhưng tư tưởng ích kỷ, lạc hậu, hẹp hòi. Họ chủ trương dân chủ, nhưng nhút nhát ươn hèn. Ngoài mặt họ cộng tác với ông Ngô Đình Diệm, nhưng bên trong vẫn ngấm ngầm phá hoại chính sách của chính quyền vì quyền lợi của họ mâu thuẫn với quyền lợi của bè phái họ Ngô.

Bọn tiểu tư sản đông hơn nhiều (công tư chức). Dưới chế độ Pháp thuộc họ là những người bất mãn, nên hàng ngũ cách mạng thường xuất thân từ tầng lớp xã hội này.

Dưới chế độ Ngô Đình Diệm họ khó chịu về chế độ độc tài gia đình trị, chế độ bè phái áp bức, nhưng vì họ rời rạc phản ứng lẻ tẻ nhứt thời, không tích cực, nên sự chống đối rất yếu ớt. Tuy nhiên vì họ là đa số giới công chức nên trong bộ máy chánh quyền, thái độ tiêu cực của bọn này làm cho bộ máy nhà nước lệch lạc, không hiệu lực, thối nát.

3)    Giới tiểu công nghệ, kỹ nghệ: Họ sống bất bình nhưng ít ỏi, không có lực lượng gì đáng kể.

Giới tiểu thương, nhờ chính sách bài Pháp, bài Hoa, viện trợ Mỹ, tương đối hưởng lợi nhiều hơn các tầng lớp khác, nhưng bị chế độ thuế khóa, chế độ hành chánh thối nát ức hiếp nên cũng bất bình.

4)    Dân quê: Đối với dân quê, những cuộc cải cách của ông Ngô Đình Diệm như cải cách điền địa, chính sách dinh điền, khu trù mật, chính sách ấp chiến lược...không những không lợi gì cho họ, mà trái lại làm cho họ phá sản, thù oán.

Chính sách tố cộng, không sáng suốt, thúc đẩy một số người kháng chiến quốc gia, một ít kẻ chán ghét Cộng sản, trở lại cộng tác với Cộng sản trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Khôn khéo hơn ông Ngô Đình Diệm, đảng Cộng sản ở Nam đổi tên là đảng “Nhân Dân Cách Mạng” tuyên bố chủ trương thiết lập dân chủ, bỏ đấu tranh giai cấp, bỏ chuyên chính vô sản. Họ nêu khẩu hiệu giải phóng dân tộc, chống đế quốc Mỹ, và quân phiệt độc tài, thực hiện thống nhất, độc lập, và công bằng xã hội. Dưới những danh nghĩa huy hoàng ấy, họ chém giết, phá hoại.

 

C)   CHÁNH SÁCH CÁCH MẠNG QUÂN NHÂN

Sau khi lật đổ ông Ngô Đình Diệm, các tướng lãnh lên cầm quyền. Người ta lại nói tới cách mạng rồi đủ các hình dung, từ cách mạng ôn hòa tới toàn diện, nông thôn. Nhưng căn bản chánh trị, kinh tế, xã hội, pháp lý không có gì thay đổi. Có thay đổi là ở chỗ chế độ quốc gia không còn có một bộ óc chỉ huy, không còn có một đường lối hoạch định theo một chiều hướng.

Chính quyền vẫn ở trong tay khối tư sản, thay đổi chỉ là thay đổi cá nhân. Cũng vẫn là một số người phản ảnh quyền lợi tư sản, trước kia bám vào chế độ Ngô Đình Diệm vì sợ Cộng sản, muốn lợi dụng viện trợ Mỹ, nay lại bám vào chế độ quân nhân, lợi dụng viện trợ Mỹ.

Do đó mà chế độ tư sản miền Nam vẫn không tạo được một truyền thống và kỷ luật dân chủ  khả dĩ đối chọi được với Cộng sản như các nước Tây Phương hay Nhật Bản.

Cộng sản cố nắm lực lượng lao động (nông thôn và thành thị), khai thác những mâu thuẫn xã hội gây một lý tưởng cho cuộc tranh đấu. Chủ trương của họ là cố sức lôi kéo không những giới lao động mà cả các người trí thức đã chán ghét thối nát, bất lực của chế độ mệnh danh là chế độ Quốc Gia.

Trước tình cảnh xã hội bi đát, nhiều người đã ý thức được rằng phải thay đổi, phải cách mạng.

Nhưng người ta vẫn không biết phải cách mạng thế nào? Người ta nói tới cách mạng như nói tới món đồ viện trợ.

Báo Time ngày 3-6-1966 viết:

Tuần trước 4533 cán bộ ưu tú cách mạng nông thôn 43 tỉnh đã bắt đầu thực hiện những lời hứa hẹn tại Hội Nghị Honolulu tháng 2-66 đem cách mạng xã hội và tinh thần dân tộc tới nông dân”.

Người ta quên rằng cách mạng không phải là một món hàng viện trợ người ta có thể đem tới cho người dân như phân bón, sữa bột.

Trước hết, Cách Mạng là một lý tưởng. Muốn thể hiện Cách Mạng chúng ta phải có một căn bản chủ thuyết, phải có những cương lĩnh, phải có một chương trình hành động, phải có một số khá đông đúc cán bộ giác ngộ cách mạng, thấm nhuần lý tưởng đó, mang hạt giống cách mạng đi gieo rắc, vun trồng trong dân gian.

Người Cộng sản coi chủ nghĩa Cộng sản là chân lý toàn diện, hô hào làm cách mạng xã hội. Nhưng họ thu hẹp con người vào một chiều, chiều xã hội mà bỏ chiều nhân phẩm.

Cuộc cách mạng của chúng ta cũng phải là một cuộc cách mạng xã hội, cũng phải theo đuổi mục đích hợp lý hóa kinh tế, thiết lập một nền dân chủ toàn diện (dân chủ chính trị và kinh tế).

Nhưng trái với người Cộng sản, coi con người là một dụng cụ, ta phải quan niệm xã hội là dụng cụ của con người, con người phải tự do tự mình giải phóng cho mình. Cứu cánh không phải là xã hội mà là con người. Con người đó là con người cần lao, có óc sáng tạo, ý thức được bổn phận cũng như quyền lợi của mình, và tự do giải phóng cho mình.

Tôi quan niệm con người có hai chiều:

  • chiều xã hội (lý tưởng)
  • chiều tự do (nhân phẩm)

 Cuộc cách mạng của chúng ta phải phát triển con người theo cả hai chiều hướng đó song song và đồng thời. Cũng như chủ nghĩa xã hội, chúng ta phục vụ đại chúng bằng cách hữu sản hóa vô sản, thực hiện công bằng xã hội. Nhưng đối với chúng ta, phương pháp xây dựng xã hội phải là phương pháp dân chủ trong tinh thần đạo đức nhân nghĩa cổ truyền của dân tộc.

Chỉ khi nào ta thực hiện được cuộc cách mạng xã hội nói trên đây, nhất là đối với những người nghèo khổ, thì ta mới thắng được Cộng sản. Nếu không, chống Cộng chỉ là một thái độ giả dối để bảo vệ những quyền lợi bất công thủ đắc, chỉ là  -  ý thức hay vô ý thức  -  đi ngược thực tại, đi ngược tiến hóa, phản nhân loại...

Và như vậy nhất định phải thất bại.

 

IV.  TÌNH TRẠNG CÁCH MẠNG HIỆN TẠI

Một cuộc cách mạng bùng nổ không phải là một sự ngẫu nhiên. Có những nguyên nhân xa, có những nguyên nhân gần, phát sinh cách mạng.

Nguyên nhân xa là những gì bắt nguồn từ những nguyện vọng thiết yếu của nhân dân.

Ở Việt Nam có ba nguyên nhân.

1.    Một là nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân ta, một dân tộc đã có nhiều trang lịch sử oanh liệt, mà bị ngoại bang đô hộ sống trong tủi nhục ngót một trăm năm, muốn tự giải phóng để sống một đời sống của một dân tộc tự do, ngang vai với các quốc gia dân tộc độc lập, tự do khác trên thế giới.

2.    Nguyện vọng tha thiết thứ hai của dân tộc Việt Nam là được sống trong một chế độ chính trị dân chủ, tự do, trong đó các người cai trị không còn là cha mẹ dân có quyền sinh, quyền sát và quyền tự do “bóc lột”, áp bức.

3.    Nguyện vọng tha thiết thứ ba của nhân dân là được sống trong một xã hội an toàn, công bằng, nơi mọi người có cơ hội tiến thân như nhau, không có những chênh lệch, bất công thái quá.

Tới nay người ta thấy những nguyện vọng đó vẫn chỉ là những nguyện vọng suông, mặc dầu đã có những hứa hẹn, thề thốt của những người cầm quyền dòng dã 25 năm nay, mặc dầu nhân dân đã phải hi sinh rất nhiều, về đủ mọi mặt để tranh đấu cho những nguyện vọng đó.

 A)    Nguyện vọng “giải phóng”, “dân tộc”, độc lập”, “chủ quyền” đã thực hiện được gì đâu?

Trên nguyên tắc chúng ta đã độc lập hoàn toàn về nội bộ ngoại giao từ 1954. Nhưng từ đó đến nay, chúng ta đã phải dựa vào ngoại viện Hoa Kỳ để sống.

Ngoại viện đưa tới sự hiện diện của chính sách Hoa Kỳ và các cố vấn, quân đội Hoa Kỳ, phương pháp, nếp sống Hoa Kỳ ở Việt Nam, thay thế chính sách, cố vấn, quân đội Pháp. Cũng mang lại những vi phạm chủ quyền, có khi không tha thứ được tỉ dụ như việc các cơ quan Hoa Kỳ chiếm ngang ruộng đất của dân, việc các cố vấn dẫm chân lên chủ quyền nội bộ Việt Nam, việc các tai nạn do người Mỹ gây ra không được Tòa Án Việt Nam xét xử, việc hoạch định quốc sách tuyên bố về đường lối chính sách đều do chính phủ Mỹ chủ động.

Vẫn biết trong khi trên lãnh thổ chúng ta có sự hiện diện của 500.000 quân đội ngoại quốc, trong khi chế độ chỉ sống được nhờ súng Mỹ, đạn Mỹ, tiền Mỹ, gạo Mỹ, chúng ta không thể nào nói có thể giữ chủ quyền nguyên vẹn được. Nhưng đáng lẽ tất cả những hạn chế chủ quyền đó phải được hai bên ấn định một cách minh bạch, thì trái lại người ta thấy một tình trạng mịt mù hỗn độn, vô trật tự, mạnh ai nấy làm theo ý mình muốn và tất nhiên người Hoa Kỳ phải là người mạnh!.

Mặc dù người Hoa Kỳ không hề có mục đích đen tối nào ở Việt Nam mà chỉ có ý giúp đỡ Việt Nam, những sự thực bê bối nói trên đã để cho Cộng sản dùng để khai thác tinh thần quốc gia dân tộc trong nhân dân, tung khẩu hiệu tranh đấu “Giải Phóng Dân Tộc”, “Chống Đế Quốc Mỹ”. Họ đã thành lập được Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam dưới chiêu bài chống xâm lược Mỹ và đã thành công một phần nào trong mưu đồ khuynh đảo của họ. Từ năm 1960 biết bao nhiêu người trong hàng ngũ đối phương đã nghe theo lời kêu gọi, tuyên truyền, xuyên tạc này mà cho rằng Việt Nam chưa độc lập, còn phải dành lại độc lập!

 B)    Nguyện vọng dân chủ, tự do:

Chúng ta đã có Hiến Pháp, đã có Tổng Thống dân cử, Quốc Hội dân cử, đã có đủ lệ bộ của một nước Dân Chủ hình thức. Hai viện Lập Pháp, Tối Cao Pháp Viện, Giám Sát Viện, các Hội Đồng Tư Vấn, các Hội Đồng Tỉnh, Thị Xã dân cử. Nhưng kinh nghiệm Dân Chủ trong ba năm qua là một thất vọng chua chát...

Mỗi biện pháp gọi là cách mạng xã hội (cách mạng nông thôn, hữu sản hóa người nghèo...) chỉ là những biện pháp cục bộ hời hợt không những không giải quyết được bất công mà còn tăng thêm bất công (việc hữu sản hóa vài trăm người tài xế taxi hay xe lam làm cho bao nhiêu những người không được hưởng trở thành bất mãn).

Chính sách cải cách điền địa làm cho tất cả mọi người oán hận, bất mãn, kể cả những người tá điền là những người thụ ân.

Chính sách kinh tế, tài chánh không thực tế, tùy hứng cơ hội làm theo áp lực của ngoại quốc, theo quan niệm và phương pháp của ngoại quốc đã đưa tới sự phá sản của tầng lớp đông đảo ủng hộ chế độ mạnh mẽ nhứt là công chức, quân nhân, tiểu thương, nghề tự do, trung nông, tiểu nông.

Mức sống chênh lệch một trời một vực giữa người giàu, người nghèo, chênh lệch giữa những kẻ mại bản, đầy tớ ngoại bang, gian thương, tham nhũng với những người làm ăn chân chánh, những người tự trọng và tôn trọng cương thường; giữa những kẻ lợi dụng quyền thế để làm giàu và chuyển tiền ra ngoại quốc với những người hi sinh, tận tụy tranh đấu cho sống còn của chế độ, tất cả những cái đó đã làm cho nhân dân khát vọng đòi thay đổi, đòi cải cách, đòi cách mạng.

Độc Lập chủ quyền chưa thể hiện, Dân Chủ Tự Do chưa thực thi, Công Bằng Xã Hội cũng còn xa vời. Đó là những nguyên nhân xâu xa của cách mạng. Lại còn nhiều lý do khác đang thành “mồi lửa” để làm cho cách mạng bùng nổ. Những “lý do gần” của cách mạng đó không thiếu.

Đó là lòng phẫn nộ của nhiều tầng lớp nhân dân đối với những bất công quá lõa lồ trong việc đối xử, thưởng phạt công chức, quân nhân, trong việc quân dịch, trong việc thuế khóa, trong việc giáo dục, trong việc phân phối tài nguyên, lợi tức, nghĩa vụ.

Đó là sự xuất hiện những tầng lớp nhân dân mới. Quân nhân, kinh doanh, nông dân, thợ thuyền, sinh viên, sinh ra, lớn lên tranh đấu trong không khí 30 năm chiến tranh và cách mạng đòi quyền lợi, đòi thay đổi.

Đó là sự hiện diện của một nhóm người Cộng sản có lý tưởng, có tổ chức, có kỷ luật, biết khai thác những ngao ngán, bất mãn, phẫn uất, của nhân dân để thúc đẩy họ đứng vào hàng ngũ khuynh đảo và cách mạng.

Những Phong Trào Sinh Viên, Thương Phế Binh, Uỷ Ban Đòi Quyền Sống, Uỷ Ban Tranh Thủ Hòa Bình...không phải chỉ là những tổ chức, vận động giả tạo hay do Cộng sản gây ra mà là những triệu chứng báo động một cuộc cách mạng sắp bùng nổ và tiêu biểu những nhu cầu cấp thiết, những đòi hỏi thiết thực của nhân dân. Và đó mới chỉ là những nhóm lửa nhỏ có thể trở thành một cơn bão lửa ác liệt.

Người cầm quyền phải ý thức được tình trạng tiền cách mạng đó và phải ý thức rằng nếu chính quyền không chịu giải quyết những vấn đề căn bản, không thể hiện một cuộc cách mạng toàn diện thì Cộng sản vẫn sống mạnh và có thể thành công trong mưu đồ khuynh đảo của họ.

Ai cũng biết người Cộng sản khai thác những thối nát, những bê bối, những thiếu sót của chúng ta để lôi kéo nhân dân về họ. Ai cũng biết đa số nhân dân không ưa gì chính sách Cộng sản và cũng chẳng tán thành và ủng hộ chính sách của những người cầm quyền không Cộng sản. Ai cũng biết trong cuộc chiến này, người nào thâu phục được lòng dân là người ấy thắng.

Muốn thâu phục được lòng dân thì phải thực hiện được những nguyện vọng của dân. Muốn thực hiện được những nguyện vọng đó, phải làm một cuộc cách mạng toàn diện trên ba lãnh vực:

1)    thực hiện giải phóng dân tộc

2)    thực hiện dân chủ

3)    thực hiện công bằng xã hội

 

V. PHẢI LÀM THẾ NÀO?

 Cần ba yếu tố để làm một cuộc cách mạng:

1.    Một lý tưởng, một đường lối cách mạng (chủ thuyết hay cương lĩnh),

2.    Một số người cách mạng,

3.    Một phương pháp làm việc cách mạng.

 

A)    Người Cộng sản dùng chủ thuyết Mác-Xít (Cộng sản) làm căn bản cho công cuộc tranh đấu của họ.

Chủ nghĩa đó là một công cụ.

Chúng ta tự nhận tranh đấu để thể hiện chủ nghĩa tự do dân chủ.

Nhưng chủ nghĩa Tự Do Dân Chủ là một chủ thuyết mơ hồ, lỏng lẻo không mấy hấp dẫn với đại chúng. Tuy nhiên, trái với quan niệm của một số người, trong cuộc tranh đấu cách mạng ngày nay, yếu tố ý thức hệ không cần thiết. Một đường lối, một số nguyên tắc dùng làm cương lĩnh cũng đủ làm căn bản tinh thần cho một cuộc cách mang.

Chủ nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, Lý tưởng Tự Do Dân Chủ, Công Bằng Xã Hội có thể dùng làm chủ thuyết cho cuộc tranh đấu của chúng ta.

Chủ  thuyết đó phải được thể hiện qua một chương trình hành động thực tế, cụ thể. Chương trình này phải đặt thành một kế hoạch trường kỳ và phải hướng về việc cải tổ toàn diện các thể chế pháp lý, hành chánh, kinh tế, xã hội hiện tại để tân trang hóa bộ máy nhà nước và các thể chế xã hội cũng như để gột rửa những tàn tích nô lệ trong tinh thần một số người lạc hậu, bê bối.

 

B)    Bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng phải có một nhóm người có tinh thần cách mạng lãnh đạo và một số cán bộ có khả năng, có tinh thần phục vụ thi hành.

Vấn đề cán bộ - theo nghĩa đứng đắn của chữ này - là một yếu tố thành bại của mỗi chính sách cách mạng.

Nên nhớ rằng cuộc cách mạng Nga năm 1917 đã thành công nhờ trên dưới 1000 cán bộ Cộng sản.

Trong việc sử dụng cán bộ, không nên có những quan niệm hẹp hòi  phân biệt người cũ và mới, người già và trẻ, người có bằng cấp và không bằng cấp (mặc dù có khả năng), quân nhân, dân sự.

Trong lúc chọn cán bộ chỉ cần để ý tới hai yếu tố:

1)    Đạo đức và tinh thần phục vụ

2)    Khả năng

Tất cả mọi người ưu tú trong mọi tầng lớp nhân dân đều phải được huy động để phục vụ sự nghiệp cách mạng.

 

C)   Phải cách mạng phương pháp làm việc hiện hữu.

Những thể thức hành chánh chuyên môn, rườm rà là nguyên nhân của tinh thần vô trách nhiệm, của những bê bối, tham nhũng, bất lực.

Chính quyền phải gần dân. Các cơ quan chính quyền phải được quan niệm lập ra để phục vụ nhân dân chứ không phải là để “trị” dân. Chính quyền, công chức, không còn là cha mẹ dân mà phải là “đầy tớ dân”, phụng sự quyền lợi của dân.

Phải tối tân hóa cách thức sinh hoạt tổ chức hành chánh xã hội, phải dản dị hóa mọi thủ tục hành chánh để bớt phiền nhiễu nhân dân.

Việc tối tân hóa tổ chức và phương pháp làm việc của các cơ quan chính quyền, các thể chế xã hội không thể chỉ là nhắm mắt du nhập các tổ chức, các phương pháp Âu Mỹ vào xã hội Việt Nam. Phải lựa chọn, sửa đổi để những sáng chế thích ứng với nội tình dân tộc.

Trách nhiệm và thưởng phạt phải được ấn định rõ ràng. Việc kiểm soát phải tổ chức cách nào cho khỏi là nguồn gốc tham nhũng và bất công.

 

VI. KẾT LUẬN

 Trong bất cứ một xã hội nhân loại nào cũng có mầm mống cách mạng tiềm tàng vì có những bất công, bất mãn, và có những đầu óc cách mạng.

Nhưng cách mạng không phải là việc tất nhiên phải xảy ra hay bắt buộc phải có để canh tân xã hội. Người ta có thể tránh được đổ vỡ, phá hoại, xáo trộn do cách mạng gây ra bằng cách thể hiện những nguyện vọng chính đáng của nhân dân qua những phương pháp hòa bình và tiêu diệt những nguyên nhân gây ra bất công, bất mãn trong xã hội.

Việc này đòi hỏi ở người cầm quyền một chính sách sáng suốt hợp với nguyện vọng nhân dân để nhân dân ủng hộ và trên hết đòi hỏi một tinh thần, một đạo đức cách mạng tóm tắt ở bốn chữ “Đại Công, Chí Thành”.

Lẽ tất nhiên là những lãnh tụ chính trị, cách mạng ngoài chính quyền cũng phải ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm của mình mà tích cực góp phần vào nền tranh đấu cho sự nghiệp cách mạng và dẫn dắt nhân dân trên con đường tranh đấu cách mạng.

Nếu người cầm quyền và các người làm chính trị cách mạng bên phía chúng ta không ý thức được tình trạng xã hội cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm của họ thì chỉ có người Cộng sản là tranh đấu cho cách mạng và chúng ta thua Cộng sản.

 (Bài đăng trongTập San Quốc Phòng số 5, tháng 11, 1970)

Bạn Mới

Tập Truyện Ngắn "Người Khách Lạ"

Tập Truyện Ngắn "Người Khách Lạ" của LS Trần Văn Tuyên có tất cả 11 Chương.

Muốn đọc Toàn Bộ, Xin mời Bạn vào đây ...

- Chương 1 : Người Khách Lạ

- Chương 2 : Trần gian và Tiên Cảnh

- Chương 3 : Tết Của Bé Miễn

- Chương 4 : Chuyện Anh Tư.

- Chương 5 : Linh Hồn Và Xác Thịt

- Chương 6 : Một Thân Thế

- Chương 7 : Sở Khanh Đến Trước Diêm Vương

- Chương 8 : Thực Và Mộng

- Chương 9: Gánh Mắm Người

- Chương 10: 30 Tết Của Trâu Bò Gà Lợn

- Chương 11: Truyện Bác Nghèo

=================================

Bài Mới Đăng

=================================

Gia đình Nguyễn Ngọc Huy  tổ chức trình chiếu bộ phim Đại Họa Mất Nước trên toàn thế giới;

Mời quí vị thưởng lãm trên YouTube qua các Links dưới đây:

Chapter-1/8: http://www.youtube.com/watch?v=JQwicWxsRB8&feature=related 

Chapter-2/8: http://www.youtube.com/watch?v=tNVG-lqJnDg 

Chapter-3/8: http://www.youtube.com/watch?v=YLnqNJssvHY 

Chapter-4/8: http://www.youtube.com/watch?v=O29v7zjUUzs 

Chapter-5/8: http://www.youtube.com/watch?v=XpbRLRzE1S4 

Chapter-6/8: http://www.youtube.com/watch?v=uTzkoZoO_IE 

Chapter-7/8: http://www.youtube.com/watch?v=yLaaU26NWh0 

Chapter-8/8: http://www.youtube.com/watch?v=jm3Un1Kbb3Y hoặc coi toàn bộ cuốn phim

Toàn bộ:http://www.youtube.com/watch?v=fpYuc2gs2bk&feature=related

=================================

Muốn đọc Tiểu Sử của Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học, xin vào Trang Archives hay Links;

Hoặc bấm vào thư viện của Nguyễn Thái Học Foundation;

=================================

Muốn biết gì về đạo Cao Đài, xin bấm vào đây để đọc bằng tiếng Anh Caodaism.

Muốn đọc tiếng Việt, xin vào đây Đạo Cao Đài;

Tìm qua Google

Tìm ở đây : http://www.google.com;